A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Chuyên đề: BIỆN PHÁP DẠY MÔN KHOA HỌC LỚP 5 BẰNG PHƯƠNG PHÁP BÀN TAY NẶN BỘT MANG LẠI HIỆU QUẢ.

Khoa học là môn học về các sự vật, hiện tượng tự nhiên về cơ thể và sức khỏe con người.

Phương pháp dạy học “Bàn tay nặn bột” áp dụng vào giảng dạy đối với môn Khoa học lớp 4-5 và môn học Tự nhiên- xã hội lớp 2-3 đang được ngành giáo dục Tiểu học quan tâm. Song khi áp dụng phương pháp này vào giảng dạy vẫn còn không ít băn khoăn, trăn trở, đặc biệt là thời gian dành cho một tiết học.

          Hôm nay, tôi xin chia sẻ một số thủ thuật khi áp dụng “Bàn tay nặn bột” chỉ mất khoảng 45-50 phút cho một tiết học mà vẫn đạt kết quả khả quan để đồng nghiệp cùng chia sẻ.

          Trong 5 bước của một tiết dạy thì bước 2 và bước 3 là mất nhiều thời gian và sự thành công của tiết dạy phụ thuộc rất nhiều ở hai bước này, Nếu người giáo viên xử lí không khéo thì giờ dạy sẽ lan man mất rất nhiều thời gian và không nồi bật được kiến thức trọng tâm của bài dạy.

Bước 2: Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh:

          Thông thường, bước này, giáo viên thường tiến hành qua 4 thao tác: làm việc cá nhân, trao đổi nhóm thống nhất, gắn bảng nhóm lên bảng lớp, học sinh đối chiếu tìm ra những quan điểm giống và khác nhau giữa các nhóm. Theo chúng tôi, giáo viên chỉ hướng dẫn học sinh qua 2 thao tác như sau:

1. Bộc lộ quan niệm:

          - Hoc sinh trong nhóm vẫn ghi lại bằng lời hoặc hình vẽ các quan niệm của mình về vấn đề nghiên cứu đồng thời nhóm trưởng cũng ghi luôn những quan niệm của mình vào bảng nhóm. Sau đó, nhóm trưởng nêu nhanh những suy nghĩ của mình trong nhóm các thành viên khác theo dõi với kết quả của mình nếu thấy thiếu ý nào thì nêu lên và nhóm trưởng sẽ ghi bổ sung.

          Với cách làm trên đã hạn chế được một phần thời gian đáng kể mà vẫn đảm bảo nguyên tắc tất cả học sinh đều được làm việc, không còn hiện tượng một học sinh phải ghi 2 lần gần như cùng một vấn đề: một lần ghi ý kiến cá nhân ở vở thực hành, một lần ghi ý kiến của cả tổ vào bảng nhóm.

Ví dụ: Ở bài “Dung dịch”, từng cá nhân bộc lộ quan niệm ban đầu của mình phát biểu. Chẳng hạn: Dung dịch có vị mặn. Dung dịch có hòa tan được chất rắn. Dung dịch có hòa tan được muối ăn... Nhóm trưởng tổng hợp ghi ý kiến của cả nhóm.

2. Trình bày quan niệm, so sánh đối chiếu:

          Khi các nhóm gắn bảng lên bảng, giáo viên lướt thật nhanh xem nhóm nào có bộc lộ quan niệm đầy đủ nhất, sẽ yêu cầu nhóm trưởng của nhóm đó đọc to các quan niệm của nhóm mình còn đại diện các nhóm khác thì theo dõi vào bảng của nhóm mình nếu cùng quan điểm suy nghĩ thì dùng phấn màu cùng đánh số thứ tự 1, 2, 3... (Tất cả các nhóm đều đánh số thứ tự như nhau).

          Chỉ cần một thao tác đánh số thứ tự rất đơn giản, giáo viên đã cho học sinh làm gộp được cả 3 thao tác của mỗi nhóm: Báo cáo quan niệm (không phải lần lượt từng nhóm đọc lên như cách dạy thông thường) mà chỉ cần một nhóm đọc các nhóm, các ý còn lại trong bảng nhóm chưa có số thứ tự là quan niệm khác nhau của nhóm còn lại.

          Việc đánh số thứ tự như vậy cũng rất thuận tiện cho thầy cô ghi lại quan điểm của các em và định hướng cho các em đề xuất câu hỏi ở bước 3.

          Ví dụ: Ở bài “Dung dịch”, nếu cả hai nhóm đều có 3 ý kiến, mỗi nhóm có 2 ý kiến khác nhau. Giáo viên đối chiếu, ghi nhận, sẽ ít mất thời gian.

Bước 3: Đề xuất câu hỏi, giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm:

          Khó khăn nhất với giáo viên là làm sao định hướng cho học sinh đặt câu hỏi đúng trọng tâm. Trong thao tác này, thông thường giáo viên khuyến khích học sinh đề xuất câu hỏi tự do theo các suy nghĩ đã ghi ở vở thực hành hoặc ở bảng nhóm. Sẽ có hai trường hợp xảy ra: Một là học sinh đề xuất nhiều câu hỏi trùng lặp một nội dung hoặc lượng câu hỏi lan man không đúng trọng tâm. Hai là học sinh chỉ đề xuất được một hoặc hai câu hỏi thì không đủ lượng kiến thức cần khai thác mà giáo viên lại phải nêu câu hỏi thì không đảm bảo cách dạy học theo “Bàn tay nặn bột”.

          Chúng tôi tiến hành hướng dẫn gợi mở cho học sinh cách đặt câu hỏi theo từng phần của bài học theo các số thứ tự đã đánh ở phần bộc lộ suy nghĩ ban đầu mà giáo viên ghi tóm tắt lên bảng. Vì có số thứ tự cụ thể nên các em dễ dàng tập trung suy nghĩ đặt câu hỏi cho từng phần từng ý rất đơn giản nhờ đó các em còn tự sửa nhận xét cho nhau cách đặt câu hỏi rõ ràng hơn. Hơn nữa, vì mỗi số đánh thứ tự chỉ được đặt một câu hỏi nên các em đặt câu hỏi trùng lặp như ở cách dạy trên.

          Ví dụ: Ở bài “Dung dịch”, chúng tôi chia bảng thành hai phần để ghi nhanh câu hỏi cùng quan điểm ghi bên trái, câu hỏi có suy nghĩ khác bên phải:

 

1. Dung dịch có hòa tan với chất rắn không?

2. Dung dịch có hòa tan với muối không?

3. Dung dịch có hòa tan với đường không?

1. Dung dịch có vị mặn hay ngọt?

2.Dung dịch được tạo nên từ mấy chất?

 

          Với cách ghi câu hỏi như trên, học sinh cũng dễ dàng đề xuất được các cách làm thí nghiệm để tìm tòi ra kết luận chính xác, mặt khác việc loại bỏ những câu hỏi chưa cần thiết cũng khá rõ ràng để tránh cho học sinh những nhầm lẫn không đáng có khi làm thí nghiệm.

Tóm lại, trong dạy học Khoa học, học sinh chỉ học tập có kết quả cao khi chính các em chủ động chiếm lĩnh tri thức và tự rút ra bài học dưới sự tổ chức, dẫn dắt của GV. Điều cốt lõi của phương pháp dạy học Khoa học là cần tổ chức để HS tự chiếm lĩnh kiến thức (dưới nhiều phương thức và mức độ khác nhau) một cách hứng thú, tích cực, chủ động. Phương pháp “Bàn tay nặn bột” sẽ đạt hiệu quả cao khi học sinh chủ động tìm tòi giải quyết vấn đề đặt ra. Với sự theo dõi, định hướng, giúp đỡ của giáo viên , hoạt động học của học sinh diễn ra theo một tiến trình hợp lí, phù hợp với đòi hỏi phương pháp luận.   

Tuy nhiên, cần kết hợp một cách nhuần nhuyễn các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học. Kết hợp như thế nào, mức độ kết hợp ra sao phải căn cứ vào mục tiêu, nội dung bài học, điều kiện cụ thể của nhà trường, đối tượng GV và HS. Và đặc biệt, cần hết sức quan tâm phát huy vốn hiểu biết của HS, rèn luyện kỹ năng ứng xử, quan sát, phân tích, tổng hợp ….. của các em, đồng thời chú trọng liên hệ nội dung bài học với tình hình địa phương, với môi trường sống xung quanh các em.

 

Phương pháp dạy học “Bàn tay nặn bột” áp dụng vào giảng dạy đối với môn Khoa học lớp 4-5 và môn học Tự nhiên- xã hội lớp 2-3 đang được ngành giáo dục Tiểu học quan tâm. Song khi áp dụng phương pháp này vào giảng dạy vẫn còn không ít băn khoăn, trăn trở, đặc biệt là thời gian dành cho một tiết học.

          Hôm nay, tôi xin chia sẻ một số thủ thuật khi áp dụng “Bàn tay nặn bột” chỉ mất khoảng 45-50 phút cho một tiết học mà vẫn đạt kết quả khả quan để đồng nghiệp cùng chia sẻ.

          Trong 5 bước của một tiết dạy thì bước 2 và bước 3 là mất nhiều thời gian và sự thành công của tiết dạy phụ thuộc rất nhiều ở hai bước này, Nếu người giáo viên xử lí không khéo thì giờ dạy sẽ lan man mất rất nhiều thời gian và không nồi bật được kiến thức trọng tâm của bài dạy.

Bước 2: Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh:

          Thông thường, bước này, giáo viên thường tiến hành qua 4 thao tác: làm việc cá nhân, trao đổi nhóm thống nhất, gắn bảng nhóm lên bảng lớp, học sinh đối chiếu tìm ra những quan điểm giống và khác nhau giữa các nhóm. Theo chúng tôi, giáo viên chỉ hướng dẫn học sinh qua 2 thao tác như sau:

1. Bộc lộ quan niệm:

          - Hoc sinh trong nhóm vẫn ghi lại bằng lời hoặc hình vẽ các quan niệm của mình về vấn đề nghiên cứu đồng thời nhóm trưởng cũng ghi luôn những quan niệm của mình vào bảng nhóm. Sau đó, nhóm trưởng nêu nhanh những suy nghĩ của mình trong nhóm các thành viên khác theo dõi với kết quả của mình nếu thấy thiếu ý nào thì nêu lên và nhóm trưởng sẽ ghi bổ sung.

          Với cách làm trên đã hạn chế được một phần thời gian đáng kể mà vẫn đảm bảo nguyên tắc tất cả học sinh đều được làm việc, không còn hiện tượng một học sinh phải ghi 2 lần gần như cùng một vấn đề: một lần ghi ý kiến cá nhân ở vở thực hành, một lần ghi ý kiến của cả tổ vào bảng nhóm.

Ví dụ: Ở bài “Dung dịch”, từng cá nhân bộc lộ quan niệm ban đầu của mình phát biểu. Chẳng hạn: Dung dịch có vị mặn. Dung dịch có hòa tan được chất rắn. Dung dịch có hòa tan được muối ăn... Nhóm trưởng tổng hợp ghi ý kiến của cả nhóm.

2. Trình bày quan niệm, so sánh đối chiếu:

          Khi các nhóm gắn bảng lên bảng, giáo viên lướt thật nhanh xem nhóm nào có bộc lộ quan niệm đầy đủ nhất, sẽ yêu cầu nhóm trưởng của nhóm đó đọc to các quan niệm của nhóm mình còn đại diện các nhóm khác thì theo dõi vào bảng của nhóm mình nếu cùng quan điểm suy nghĩ thì dùng phấn màu cùng đánh số thứ tự 1, 2, 3... (Tất cả các nhóm đều đánh số thứ tự như nhau).

          Chỉ cần một thao tác đánh số thứ tự rất đơn giản, giáo viên đã cho học sinh làm gộp được cả 3 thao tác của mỗi nhóm: Báo cáo quan niệm (không phải lần lượt từng nhóm đọc lên như cách dạy thông thường) mà chỉ cần một nhóm đọc các nhóm, các ý còn lại trong bảng nhóm chưa có số thứ tự là quan niệm khác nhau của nhóm còn lại.

          Việc đánh số thứ tự như vậy cũng rất thuận tiện cho thầy cô ghi lại quan điểm của các em và định hướng cho các em đề xuất câu hỏi ở bước 3.

          Ví dụ: Ở bài “Dung dịch”, nếu cả hai nhóm đều có 3 ý kiến, mỗi nhóm có 2 ý kiến khác nhau. Giáo viên đối chiếu, ghi nhận, sẽ ít mất thời gian.

Bước 3: Đề xuất câu hỏi, giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm:

          Khó khăn nhất với giáo viên là làm sao định hướng cho học sinh đặt câu hỏi đúng trọng tâm. Trong thao tác này, thông thường giáo viên khuyến khích học sinh đề xuất câu hỏi tự do theo các suy nghĩ đã ghi ở vở thực hành hoặc ở bảng nhóm. Sẽ có hai trường hợp xảy ra: Một là học sinh đề xuất nhiều câu hỏi trùng lặp một nội dung hoặc lượng câu hỏi lan man không đúng trọng tâm. Hai là học sinh chỉ đề xuất được một hoặc hai câu hỏi thì không đủ lượng kiến thức cần khai thác mà giáo viên lại phải nêu câu hỏi thì không đảm bảo cách dạy học theo “Bàn tay nặn bột”.

          Chúng tôi tiến hành hướng dẫn gợi mở cho học sinh cách đặt câu hỏi theo từng phần của bài học theo các số thứ tự đã đánh ở phần bộc lộ suy nghĩ ban đầu mà giáo viên ghi tóm tắt lên bảng. Vì có số thứ tự cụ thể nên các em dễ dàng tập trung suy nghĩ đặt câu hỏi cho từng phần từng ý rất đơn giản nhờ đó các em còn tự sửa nhận xét cho nhau cách đặt câu hỏi rõ ràng hơn. Hơn nữa, vì mỗi số đánh thứ tự chỉ được đặt một câu hỏi nên các em đặt câu hỏi trùng lặp như ở cách dạy trên.

          Ví dụ: Ở bài “Dung dịch”, chúng tôi chia bảng thành hai phần để ghi nhanh câu hỏi cùng quan điểm ghi bên trái, câu hỏi có suy nghĩ khác bên phải:

 

1. Dung dịch có hòa tan với chất rắn không?

2. Dung dịch có hòa tan với muối không?

3. Dung dịch có hòa tan với đường không?

1. Dung dịch có vị mặn hay ngọt?

2.Dung dịch được tạo nên từ mấy chất?

 

          Với cách ghi câu hỏi như trên, học sinh cũng dễ dàng đề xuất được các cách làm thí nghiệm để tìm tòi ra kết luận chính xác, mặt khác việc loại bỏ những câu hỏi chưa cần thiết cũng khá rõ ràng để tránh cho học sinh những nhầm lẫn không đáng có khi làm thí nghiệm.

Tóm lại, trong dạy học Khoa học, học sinh chỉ học tập có kết quả cao khi chính các em chủ động chiếm lĩnh tri thức và tự rút ra bài học dưới sự tổ chức, dẫn dắt của GV. Điều cốt lõi của phương pháp dạy học Khoa học là cần tổ chức để HS tự chiếm lĩnh kiến thức (dưới nhiều phương thức và mức độ khác nhau) một cách hứng thú, tích cực, chủ động. Phương pháp “Bàn tay nặn bột” sẽ đạt hiệu quả cao khi học sinh chủ động tìm tòi giải quyết vấn đề đặt ra. Với sự theo dõi, định hướng, giúp đỡ của giáo viên , hoạt động học của học sinh diễn ra theo một tiến trình hợp lí, phù hợp với đòi hỏi phương pháp luận.   

Tuy nhiên, cần kết hợp một cách nhuần nhuyễn các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học. Kết hợp như thế nào, mức độ kết hợp ra sao phải căn cứ vào mục tiêu, nội dung bài học, điều kiện cụ thể của nhà trường, đối tượng GV và HS. Và đặc biệt, cần hết sức quan tâm phát huy vốn hiểu biết của HS, rèn luyện kỹ năng ứng xử, quan sát, phân tích, tổng hợp ….. của các em, đồng thời chú trọng liên hệ nội dung bài học với tình hình địa phương, với môi trường sống xung quanh các em.


Tác giả: Nguyễn Văn Đằng
Nguồn:sưu tầm Copy link
Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài viết liên quan